Tuesday, 05/07/2022 - 21:55|
"Chung tay bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em" "Roi vọt không làm trẻ nên người, yêu thương mạnh hơn lời quát mắng" "Lắng nghe trẻ em băng trái tim, bảo vệ trẻ em bằng hành động" " "Hãy đội mũ bào hiểm cho trẻ khi tham gia giao thông bằng xe máy" "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta" "Toàn Đảng, toàn dân toàn quân ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng" "Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học trong năm học 2021-2022

Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là một nội dung tuy không mới nhưng việc triển khai thực hiện tại nhà trường còn  hạn chế. Một số GV còn chưa hiểu cặn kẽ hình thức sinh hoạt chuyên môn này nên việc thực hiện sinh hoạt chuyên môn vẫn theo cách thức truyền thống, dẫn đến nảy sinh nhiều bất cập, hình thức, hiệu quả sinh hoạt chuyên môn không cao. Để nâng cao nhận thức của giáo viên về nội dung Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học tôi xin tổng hợp một số tài liệu về nội dung này như sau để các đồng chí tham khảo.

Trước tiên chúng ta cùng nhìn lại cách thức SHCM trong những năm học trước:

 Việc thực hiện sinh hoạt chuyên môn còn nặng về hình thức, thể hiện trên hồ sơ sổ sách, đảm bảo đủ số lượng buổi sinh hoạt theo quy định, chưa có sự sáng tạo nâng cao chất lượng trong nội dung sinh hoạt.

Các hoạt động SHCM mang tính biểu diễn, làm mẫu, được tập duyệt nhiều lần trước khi cho giáo viên dự giờ, dẫn đến đa số trẻ mất đi sự hứng thú, tự nhiên trong hoạt động.

- Giáo viên thường coi hoạt động tổ chức trong buổi SHCM là hoạt động mẫu, lý tưởng, ít có nội dung thảo luận, phản biện vấn đề đề tìm giải pháp ưu việt hơn.

- Đôi khi, chính sự tham gia của những người dự giờ làm ảnh hưởng đến hoạt động của trẻ. Đa số giáo viên dự tập trung soi xét đánh giá hoạt động của người dạy, theo các khuôn mẫu nhất định, ít quan tâm đến quá trình hoạt động của trẻ và hiệu quả hoạt động trên trẻ

Soi chiếu vào đó ta tìm hiểu về cách thức SHCM theo NCBH đang được triển khai:

Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của học sinh. Ở đó, giáo viên cùng nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ. SHCM  theo nghiên cứu bài học không tập trung vào đánh giá giờ học, xếp loại giờ dạy như trước đây mà  giáo viên, quan sát trẻ có đang học không? Học như thế nào? Việc học có ý nghĩa không? Trẻ học thêm được điều gì có ý nghĩa không? và hướng đến khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân học tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và kịp thời có biện pháp khắc phục (tập  trung chủ yếu vào cải thiện việc  học của  trẻ). Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra…có ảnh hưởng đến việc học của trẻ, nhận diện được tình trạng học tập của mỗi trẻ, những khó khăn, những sai lầm và các yếu tố đang cản trở (hay đang thúc đẩy) việc học của trẻ  để từ đó tìm ra cách thức để tác động  phù hợp, hiệu quả hơn. 

Không chỉ tạo cơ hội cho mọi giáo viên được tham gia vào quá trình học tập để nâng cao trình độ chuyên môn mà cách làm này còn giúp giáo viên chủ động điều chỉnh cách dạy phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, và phù hợp với thực tế của trường mình.

 Trên cơ sở đó, giáo viên được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học vào việc t chức các hoạt động hằng ngày một cách hiệu quả

So sánh hai hình thức SHCM:

 

SHCM truyền thống

SHCM theo NCBH

Mục đích

- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.

- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.

- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.

- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.

- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.

- Tạo cơ hội cho GV phát triển năng lực chuyên môn, tiềm năng sáng tạo của mình.

Thiết kế bài dạy minh họa

- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.

- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.

- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.

- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế. Chủ động linh hoạt không phụ thuộc máy móc vào quy trình, các bước dạy học trong SGK, SGV.

- Các hoạt động trong thiết kế bài học cần đảm bảo được mục tiêu bài học, tạo cơ hội cho tất cả HS được tham gia bài học.

Giáo viên Dạy minh họa

* Giáo viên dạy minh hoạ

- GV dạy hết các nội dung kiến thức trong bài học, bất luận nội dung kiến thức đó có phù hợp với HS không.

- GV áp đặt dạy học một chiều, máy móc: hỏi – đáp hoặc đọc – chép hoặc giải thích bằng lời.

- GV thực hiện đúng thời gian dự định cho mỗi hoạt động. Câu hỏi đặt ra thường yêu cầu HS trả lời theo đúng đáp án dự kiến trong giáo án (mang tính trình diễn).

* Người dự giờ

- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS

* Giáo viên dạy minh hoạ

- Có thể là một GV tự nguyện hoặc một người được nhóm thiết kế lựa chọn.

- Thay mặt nhóm thiết kế thể hiện các ý tưởng đã thiết kế trong bài học.

- Quan tâm đến những khó khăn của HS.

- Kết quả giờ học là kết quả chung của cả nhóm.

 

* Người dự giờ

- Đứng ở vị trí thuận lợi để quan sát, ghi chép, sử dụng các kĩ thuật, chụp ảnh, quay phim…những hành vi, tâm lí, thái độ của HS để có dữ liệu phân tích việc học tập của HS..

Thảo luận giờ dạy minh họa

- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm mục đích đánh giá, xếp loại GV.

 

- Những ý kiến thảo luận, góp ý thường không đưa ra được giải pháp để cải thiện giờ dạy. GV dạy trở thành mục tiêu bị phân tích, mổ xẻ các thiếu sót.

 

 

- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.

- Cuối buổi thảo luận người chủ trì tổng kết, thống nhất cách dạy chung cho các khối.

- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua giờ học.

- Người dự đưa ra các ý kiến nhận xét, góp ý về giờ học theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng; tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm các ra nguyên nhân.

- Không đánh giá, xếp loại người dạy mà coi đó là bài học chung để mỗi GV tự rút kinh nghiệm.

- Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe tất cả ý kiến của GV, không áp đặt ý kiến của mình hoặc của một nhóm người. Tóm tắt các vấn đề thảo luận và đưa ra các biện pháp hỗ trợ HS.

 Kết quả

* Đối với HS

- Kết quả học tập của HS ít được cải thiện.

- Quan hệ giữa các HS trong giờ học thiếu thân thiện, có sự phân biệt giữa HSG với HS yếu kém

 

 

 

 

* Đối với GV

- Các PPDH mà GV sử dụng thường mang tính hình thức, không hiệu quả. Do dạy học một chiều nên GV ít quan tâm đến HS .

- Quan hệ giữa GV và HS thiếu thân thiện, cởi mở.

- Quan hệ giữa các GV thiếu sự cảm thông, chia sẻ, luôn phủ nhận lẫn nhau.

 

 

* Đối với cán bộ quản lí

- Cứng nhắc, theo đúng quy định chung. Không dám công nhận những ý tưởng mới, sáng tạo của GV.

- Quan hệ giữa cán bộ quản lí với GV là quan hệ mệnh lệnh, xa cách, hành chính…

 

* Đối với HS

- Kết quả của HS được cải thiện.

- HS tự tin hơn, tham gia tích cực vào các hoạt động học, không có học sinh nào bị “bỏ quên”.

- Quan hệ giữa các học sinh trở nên thân thiện, gần gũi về khoảng cách kiến thức.

* Đối với GV

- Chủ động sáng tạo, tìm ra các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học.

- Tự nhận ra hạn chế của bản thân để điều chỉnh kịp thời.

- Quan tâm đến những khó khăn của HS, đặc biệt là HS yếu, kém.

- Quan hệ giữa đồng nghiệp trở nên gần gũi, cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau.

*Đối với cán bộ quản lí

- Đặt bài học lên hàng đầu, đánh giá sự linh hoạt sáng tạo của của từng GV.

- Có cơ hội bám sát chuyên môn, hiểu được nguyên nhân của những khó khăn trong quá trình dạy và học để có biện pháp hỗ trợ kịp thời.

- Quan hệ giữa cán bộ quản lí và GV gần gũi, gắn bó và chia sẻ.

Các nội dung sinh hoạt TCM cần phong phú, thiết thực phục vụ cho công tác cải tiến, nâng cao chất lượng giảng dạy của GV, động viên tinh thần cầu thị trong tự bồi dưỡng của GV, giáo dục ý thức khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm và  sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp. Đẩy mạnh hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn theo các chuyên đề. Lựa chọn các nội dung SHCM  phù hợp với tình hình thực trạng của tổ, của nhà trường. Chỉ khi chúng ta hiểu thấu đáo được vấn đề thì mới triển khai hiệu quả cách thức SHCM này tại nhóm lớp mình phụ trách.

Tổng hợp: Dương Kim Huệ - TTCM


Tác giả: Dương Kim Huệ
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết